Dùng tiền thực nhận và tiền phải trả
Bắt đầu từ khoản tiền sẽ vào tay bạn sau mọi khấu trừ. Cộng tất cả kỳ trả, phí bắt buộc và khoản cuối kỳ để ra tổng tiền phải trả; chênh lệch với tiền thực nhận là chi phí theo lịch đó. Một con số lãi suất riêng lẻ không thể cho biết toàn bộ chi phí.
Ví dụ chỉ để minh họa phép tính
Nếu một hợp đồng ghi bạn thực nhận 5 triệu đồng và phải trả tổng cộng 6 triệu đồng theo lịch, phần chênh là 1 triệu đồng. Đây chỉ là ví dụ số học, không phải mức lãi hay đề nghị của Finpanda hoặc đối tác. Để so với một hợp đồng khác, cần đặt cùng số tiền thực nhận và thời hạn.
Đọc các tình huống ngoài lịch chuẩn
Hỏi khoản phải trả thay đổi ra sao khi thanh toán sớm, trả trễ hoặc có giai đoạn lãi khác. Với lãi thay đổi, yêu cầu công thức và thời điểm điều chỉnh. Đừng tự điền số không vào ô trống; đánh dấu dữ liệu chưa được cung cấp và hỏi bên cấp khoản vay.
So khả năng chi trả
Chia tổng nghĩa vụ theo từng ngày đến hạn và đặt cạnh thu nhập sau chi phí thiết yếu. Một phương án có tổng chi phí thấp hơn vẫn có thể không phù hợp nếu kỳ trả đầu quá sớm. Giữ bản đề nghị viết để kiểm tra lại trước khi ký.
Đọc tiếp: Vay tín chấp · So sánh đề nghị ngân hàng.
Để tra cứu thông tin chính thức về ngân hàng và các văn bản liên quan, bắt đầu tại Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Loại hợp đồng và đơn vị cấp khoản vay quyết định quy định nào áp dụng.
Cùng 1% mỗi tháng chưa chắc cùng chi phí
Phải biết lãi tính trên gốc ban đầu hay số gốc còn nợ. FAQ của Home Credit giải thích hai cách biểu diễn này; khi quy đổi cùng một khoản vay, hai mức phần trăm tương ứng có thể khác nhau. Không được lấy hai con số giống nhau rồi coi giá bằng nhau.
Ví dụ tự tính, không phải báo giá: vay 12 triệu đồng trong 12 tháng, trả gốc đều 1 triệu đồng cuối mỗi tháng, không có phí. Nếu lãi 1% mỗi tháng trên gốc ban đầu, lãi mỗi tháng là 120.000 đồng và tổng lãi là 1.440.000 đồng. Nếu 1% tính trên gốc đầu kỳ còn lại, lãi lần lượt là 120.000, 110.000, rồi giảm 10.000 đồng mỗi tháng đến 10.000 đồng; tổng là 780.000 đồng. Chênh lệch 660.000 đồng đến từ cơ sở tính lãi, dù nhãn phần trăm giống nhau. Đây không phải phép tính APR hay lịch trả góp đều cả gốc lẫn lãi.
So cả số tiền nhận và các khoản ngoài lãi
Yêu cầu bảng thanh toán cùng số tiền thực nhận. Tách phí trả riêng, phí bị trừ lúc giải ngân, bảo hiểm nếu chọn hoặc được yêu cầu theo sản phẩm và phí khi tất toán sớm. Không cộng một khoản phí hai lần nếu nó đã nằm trong tổng trả; nhưng cũng không bỏ qua khoản bị khấu trừ vì gốc hợp đồng vẫn có thể phải trả đủ.
Giữ cùng số tiền thực nhận và kỳ hạn khi so hai đề nghị. Một kỳ hạn dài làm số trả mỗi tháng nhỏ hơn nhưng chưa chắc giảm tổng chi phí. Nếu lãi thay đổi sau ưu đãi, tính thêm lịch theo mức sau ưu đãi và xem cách xác định mức đó. Khi chưa có lịch và phí, chữ “thấp” chỉ là mô tả, chưa phải kết luận so sánh.
Ví dụ tiền thực nhận và trả góp giúp đối chiếu dòng tiền. Quy định lãi cũng cần xét loại hợp đồng và luật áp dụng; không dùng một tỷ lệ chung để thay bảng giá của từng sản phẩm.